Nghị định 105/2025/NĐ-CP: Về quy định chi tiết Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
Văn bản này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2025. Vậy Nghị định số 105/2025/NĐ-CP về PCCC là gì? PCCC Thành Phố Mới sẽ giải thích chi tiết và đầy đủ ngay trong bài viết này.
1. Nghị định 105/2025/NĐ-CP là gì?
Nghị định 105/2025/NĐ-CP là Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
2. Công bố Nghị định 105/2025/NĐ-CP
- Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
- Căn cứ Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ ngày 29 tháng 11 năm 2024;
- Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Ngày 29/11/2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ số 55/2024/QH15; ngày 15/5/2025, Chính phủ đã ban hành:
- Nghị định 105/2025/NĐ-CP
- Nghị định 106/2025/NĐ-CP
Bộ trưởng Bộ Công an ban hành:
Bộ 5 Nghị định + Thông tư được ký/ban hành cùng thời điểm để tạo điều kiện cho toàn bộ khung pháp lý về Luật Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ (PCCC&CNCH) mới, đồng thời tạo ra một hệ thống và quy phạm đồng nhất về PCCC&CNCH.
| Cơ quan ban hành: | Chính phủ | Số công báo: | 717+718+719+720 |
| Số hiệu: | 105/2025/NĐ-CP | Ngày đăng công báo: | 31/05/2025 |
| Loại văn bản: | Nghị định | Người ký: | Phạm Minh Chính |
| Ngày ban hành: | 15/05/2025 | Ngày có hiệu lực: | 01/07/2025 |
| Lĩnh vực: | Phòng cháy chữa cháy | Tình trạng hiệu lực: | Đang còn hiệu lực |
3. Danh sách Nghị định liên quan về Luật PCCC
| STT | TÊN NGHỊ ĐỊNH | DIỄN GIẢI | THÔNG TIN |
| 1 | Luật PCCC số 55/2024/QH15 | Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) mới nhất 2024 | VĂN BẢN CHÍNH THỨC |
| 2 | Nghị định 105/2025/NĐ-CP | Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCCC & CNCH 2024 | VĂN BẢN HƯỚNG DẪN CHÍNH |
| 3 | Nghị định 106/2025/NĐ-CP | Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC & CNCH | QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VỀ PCCC |
| 4 | Nghị định 50/2024/NĐ-CP | Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 136/2020/NĐ-CP và Nghị định số 83/2017/NĐ-CP | ĐÃ HẾT HIỆU LỰC |
Ngoài ra, còn một số văn bản Thông tư và QCVN liên quan khác đến Luật phòng cháy, chữa cháy như Thông tư 36/2025/TT-BCA, Thông tư 103/2025/TT-BCA (Ban hành QCVN 10:2025/BCA), QCVN 06:2022/BXD (và các bản sửa đổi: SỬA ĐỔI 1:2023 QCVN 06:2022/BXD).
4. Thay thế hoàn toàn các Nghị định cũ
Khi nghị định này được ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2025 thì các văn bản Nghị định cũ về hướng dẫn chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cũng sẽ hết hiệu lực, bao gồm các văn bản như sau:
| STT | VB HƯỚNG DẪN LUẬT PCCC | DIỄN GIẢI | TÌNH TRẠNG |
| 1 | Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2017 | Quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy | ĐÃ HẾT HIỆU LỰC |
| 2 | Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2020 | Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy | ĐÃ HẾT HIỆU LỰC |
| 3 | Nghị định số 50/2024/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2024 | Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy | ĐÃ HẾT HIỆU LỰC |
| 4 | Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2011 | Quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng. | ĐÃ HẾT HIỆU LỰC |
Một số hoạt động khác liên quan khác về PCCC&CNCH được quy định theo mục chuyển tiếp. Xe chi tiết tại mục 46 của Nghị định 105/2025 này.

Điểm mới của Nghị định số 105/2025/NĐ-CP
1. 21+ điểm mới của Nghị định số 105/2025/NĐ-CP
1. Quy định về danh mục cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC, danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ
2. Quy định về ban hành nội quy PCCC, CNCH; việc lập, quản lý hồ sơ về PCCC, CNCH; việc khai báo, cập nhập dữ liệu về PCCC, CNCH
3. Quy định về yêu cầu PCCC khi lập, điều chỉnh, phê duyệt quy hoạch đô thị và nông thôn
4. Quy định về việc thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, công trình, phương tiện giao thông; việc điều chỉnh thiết kế, thay đổi công năng, cải tạo; danh mục công trình, phương tiện giao thông thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy; nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy; trách nhiệm phối hợp trong thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy
5. Quy định về nội dung, thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm tra về PCCC
6. Quy định về nội dung, thời gian thực tập phương án chữa cháy, CNCH và phương án CNCH
7. Quy định việc phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an trong tổ chức chữa cháy đối với công trình lưỡng dụng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng
8. Quy định về trách nhiệm đầu tư, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng trụ nước chữa cháy; đầu tư, quản lý các điểm, bến để xe chữa cháy, máy bơm chữa cháy lấy nước phục vụ chữa cháy
9. Quy định về thành lập Đội PCCC và CNCH cơ sở, Đội PCCC và CNCH chuyên ngành; tổ chức, hoạt động và chế độ bảo đảm điều kiện hoạt động đối với lực lượng PCCC và CNCH cơ sở, lực lượng PCCC và CNCH chuyên ngành, lực lượng dân phòng.
10. Quy định về PCCC, CNCH tình nguyện
11. Quy định về việc cấp phép trước khi lưu thông trên thị trường đối với phương tiện PCCC, CNCH và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy; danh mục phương tiện PCCC, CNCH, vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy.
12. Quy định về hệ thống Cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH và truyền tin báo cháy; việc cập nhật, khai báo dữ liệu về PCCC, CNCH
13. Quy định về lộ trình phải trang bị thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH và truyền tin báo cháy; lộ trình khai báo, cập nhật dữ liệu về PCCC, CNCH.
14. Quy định về nội dung, thẩm quyền, thời gian huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC, CNCH; chế độ, chính sách cho người tham gia huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC, CNCH
15. Quy định về chế độ, chính sách đối với người được huy động, người tham gia chữa cháy, CNCH không thuộc lực lượng PCCC và CNCH; người được huy động, người tham gia PCCC, CNCH bị tai nạn, bị thương, chết.
16. Quy định về danh mục cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; mức trích nộp, chế độ quản lý, sử dụng nguồn thu từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc cho hoạt động PCCC, CNCH
17. Quy định về đóng góp tự nguyện, tài trợ bằng tiền, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài cho hoạt động PCCC, CNCH; việc hỗ trợ từ Quỹ phòng, chống thiên tai cho hoạt động PCCC, CNCH
18. Quy định về ngân sách nhà nước bảo đảm cho hoạt động PCCC, CNCH
19. Quy định về nội dung quản lý nhà nước về PCCC, CNCH; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong thực hiện quản lý nhà nước về PCCC, CNCH
20. Quy định chuyển tiếp về kiểm định phương tiện PCCC, CNCH
21. Lộ trình xử lý cơ sở không bảo đảm yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy và không có khả năng khắc phục theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại thời điểm đưa vào hoạt động đến trước ngày Luật PCCC và CNCH có hiệu lực thi hành
22. Về cải cách thủ tục hành chính: so với quy định hiện hành, Nghị định đã bãi bỏ các thủ tục hành chính liên quan đến kinh doanh dịch vụ PCCC, cấp phép vận chuyển hàng nguy hiểm cháy, nổ; phục hồi hoạt động của cơ sở; phê duyệt phương án chữa cháy của cơ sở; cấp chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ về PCCC và CNCH nhằm tạo điều kiện thông thoáng cho cơ sở, doanh nghiệp, tăng cường chế độ tự chủ và tự chịu trách nhiệm dưới sự kiểm tra giám sát quản lý của cơ quan nhà nước, theo đúng chủ trương của Đảng về việc “đẩy mạnh xã hội hóa công tác PCCC”, khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia các hoạt động PCCC và CNCH.
2. Chi tiết những điểm mới của Nghị định 105/2025/NĐ-CP
Nghị định số 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCCC và CNCH, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, gồm 08 chương 47 Điều và 07 Phụ lục quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành đối với 24 nội dung Luật giao Chính phủ. Một số nội dung cần lưu ý như sau:
– Cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC được quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật PCCC là nhà, công trình, địa điểm được sử dụng để ở, sản xuất, kinh doanh, hoạt động thương mại, làm việc hoặc mục đích khác, được xây dựng, hoạt động theo quy định của pháp luật, thuộc danh mục do Chính phủ quy định. Trong một cơ quan, tổ chức có thể có một hoặc nhiều cơ sở; trong một cơ sở có thể có một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức. So với quy định hiện hành, khái niệm về cơ sở đã được quy định cụ thể hơn, đặc biệt nhấn mạnh việc cơ sở thuộc diện quản lý phải được xây dựng, hoạt động theo quy định của pháp luật.
– Về danh mục cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC đã sửa đổi, bổ sung thêm một số loại hình cơ sở (như cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị, chức năng…).
– Cụ thể hóa các tiêu chí phân loại để giúp việc xác định đối tượng quản lý thuận lợi hơn; theo đó, việc xác định, phân loại cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC ngoài việc dựa trên công năng, tính chất sử dụng thì sẽ dựa trên chiều cao và tổng diện tích sàn của cơ sở đó, thay cho việc xác định tổng khối tích của công trình như trước đây.
– Đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ được phân loại thành Nhóm 1 (nguy hiểm hơn) và Nhóm 2 (ít nguy hiểm hơn) dựa trên các tiêu chí như chiều cao, diện tích sàn, số lượng người để phục vụ việc phân cấp quản lý, áp dụng các biện pháp quản lý về PCCC phù hợp, tăng cường tính linh hoạt và hiệu quả trong công tác quản lý PCCC, tránh dàn trải nguồn lực.
– Đối với quy định về ban hành nội quy PCCC, CNCH, về cơ bản các quy định được kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành, có một số điểm mới như sau: bổ sung thêm nội quy liên quan đến công tác CNCH; phân loại cụ thể hơn nội quy dành cho cơ sở và nội quy dành cho phương tiện giao thông.
– Đối với việc lập, quản lý hồ sơ về PCCC, CNCH, Nghị định bổ sung một số điểm cần lưu ý sau:
+ Bổ sung thêm một số tài liệu cần lập, quản lý để phù hợp với quy định của Luật PCCC và CNCH; đặc biệt, bổ sung quy định cho phép lưu trữ hồ sơ dưới nhiều hình thức như tài liệu giấy hoặc tài liệu điện tử hoặc kết hợp tài liệu giấy và tài liệu điện tử đáp ứng yêu cầu về chuyển đổi số, kết nối dữ liệu với cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH.
+ Bổ sung quy định cho phép một số tài liệu trong Hồ sơ được lưu trữ tối thiểu 05 năm kể từ năm lập, ban hành để tạo thuận lợi cho việc quản lý.
+ Bổ sung quy định cụ thể lập hồ sơ quản lý về PCCC, CNCH đối với cơ sở thuộc diện quản lý của Cơ quan chuyên môn về xây dựng, Cơ quan Công an, Ủy ban nhân dân cấp xã.
– Đối với việc khai báo, cập nhập dữ liệu về PCCC, CNCH, Nghị định quy định tất cả cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC có trách nhiệm khai báo, cập nhật thông tin của cơ sở vào phần mềm khai báo của hệ thống Cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH và truyền tin báo cháy theo hướng dẫn của Cục Cảnh sát PCCC và CNCH, sau khi hoàn thành việc triển khai lắp đặt hệ thống Cơ sở dữ liệu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin đã khai báo. Đồng thời quy định cụ thể về thời hạn phải khai báo, cập nhật thông tin của cơ sở.
Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành về yêu cầu PCCC khi lập, điều chỉnh, phê duyệt quy hoạch, Nghị định số 105/2025/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể, chi tiết các yêu cầu về PCCC theo từng cấp quy hoạch bao gồm: quy hoạch chung; quy hoạch phân khu; quy hoạch chi tiết để phù hợp với các quy định của pháp luật về quy hoạch đô thi và nông thôn.
– Về thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, công trình, phương tiện giao thông, Nghị định số 105/2025/NĐ- CP có nhiều điểm mới; trong đó phân định lại rõ các nội dung thẩm định thiết kế về PCCC để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý chuyên ngành, cụ thể:
+ Cơ quan chuyên môn về xây dựng khi thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở đối với các dự án, công trình thuộc Phụ lục III kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP có trách nhiệm thẩm định thiết kế về PCCC đối với các nội dung gồm: khoảng cách PCCC giữa các công trình, đường, bãi đỗ, vị trí cho xe chữa cháy, lối thoát nạn, bậc chịu lửa của công trình, giải pháp chống khói. Việc thực hiện thẩm định thiết kế về PCCC không phát sinh thủ tục riêng mà được tích hợp, lồng ghép với quá trình thực hiện thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở và trả kết quả thẩm định theo quy định của pháp luật về xây dựng. Đối với việc kiểm tra công tác nghiệm thu về PCCC cũng được thực hiện cùng trình tự khi kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng.
+ Cơ quan đăng kiểm khi thực hiện thẩm định thiết kế về PCCC đối với phương tiện giao thông thuộc Phụ lục III kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ- CP theo nội dung gồm: giải pháp ngăn cháy, chống cháy lan, giải pháp bảo đảm an toàn phòng cháy cho hệ thống cung cấp năng lượng, nhiên liệu và động cơ, hệ thống, thiết bị phát hiện sự cố rò rỉ chất khí, chất lỏng nguy hiểm về cháy, nổ. Việc thực hiện thẩm định thiết kế và thời gian trả kết quả thẩm định thiết kế về PCCC được tích hợp, lồng ghép với quá trình thực hiện đăng kiểm và trả kết quả đăng kiểm theo quy định của pháp luật về đăng kiểm. Khi tiến hành kiểm tra công tác nghiệm thu về PCCC, cơ quan đăng kiểm có trách nhiệm thực hiện cùng trình tự, thủ tục, thẩm quyền kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về đăng kiểm.
+ Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình tự thẩm định thiết kế về PCCC theo các nội dung gồm: khoảng cách PCCC giữa các công trình, đường, bãi đỗ, vị trí cho xe chữa cháy, lối thoát nạn, bậc chịu lửa của công trình, giải pháp chống khói đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, công trình quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định này nhưng không thuộc thẩm quyền thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng và báo cáo kết quả thực hiện thẩm định theo Mẫu số PC13 kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP; chịu trách nhiệm với kết quả nghiệm thu của mình.
+ Cơ quan Công an thẩm định thiết kế về PCCC đối với công trình, phương tiện giao thông quy định tại Phụ lục III kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP theo các nội dung gồm: hệ thống, phương tiện PCCC; hệ thống điện phục vụ PCCC, theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 9 Nghị định số 105/2025/NĐ-CP. Ngoài ra, cơ quan Công an có trách nhiệm kiểm tra công tác nghiệm thu về PCCC đối với các nội dung do mình thực hiện thẩm định.
– Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện thẩm định thiết kế, đề nghị kiểm tra công tác nghiệm thu về PCCC, Nghị định đã bổ sung các quy định cụ thể về công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc triển khai tổ chức thực hiện.
– Về danh mục các dự án, công trình, phương tiện giao thông phải thực hiện thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu về PCCC cũng đã được điều chỉnh theo hướng tăng quy mô các dự án, công trình phải được cơ quan quản lý chuyên ngành tổ chức thẩm định để tăng cường vai trò trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, chủ phương tiện giao thông trong việc tự chịu trách nhiệm trong bảo đảm các điều kiện an toàn PCCC ngày từ khâu thiết kế, xây dựng công trình, chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm; đồng thời thống nhất các danh mục theo quy định của pháp luật về xây dựng.
– Điều chỉnh các quy định liên quan đến hoạt động kiểm tra về PCCC, theo đó, bổ sung quy định theo hướng tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ
sở, chủ hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình trong hoạt động tự kiểm tra về PCCC trong phạm vi quản lý.
– Phân công, phân cấp cụ thể trách nhiệm kiểm tra của các cơ quan chuyên môn về xây dựng, cơ quan Công an, Ủy ban nhân dân cấp xã. Theo đó:
+ Cơ quan Công an có trách nhiệm kiểm tra định kỳ, đột xuất đối với cơ sở bao gồm: việc thực hiện trách nhiệm PCCC, CNCH của người đứng đầu cơ sở; việc trang bị, duy trì hoạt động phương tiện, hệ thống PCCC, CNCH, hệ thống điện phục vụ phòng cháy và chữa cháy, nguồn nước chữa cháy theo quy định; việc lắp đặt, duy trì hoạt động của thiết bị truyền tin báo cháy và việc khai báo, cập nhật dữ liệu về PCCC, CNCH;
+ Cơ quan chuyên môn về xây dựng có trách nhiệm kiểm tra định kỳ, đột xuất đối với cơ sở bao gồm: việc duy trì khoảng cách PCCC, đường, bãi đỗ, khoảng trống phục vụ hoạt động PCCC, CNCH; việc duy trì giải pháp thoát nạn, ngăn cháy, chống cháy lan, chống khói.
+ Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra định kỳ, đột xuất đối với cơ sở thuộc phạm vi quản lý bao gồm: việc thực hiện trách nhiệm PCCC, CNCH của người đứng đầu cơ sở; việc trang bị, duy trì hoạt động của phương tiện, hệ thống PCCC, CNCH, hệ thống điện phục vụ phòng cháy và chữa cháy, nguồn nước chữa cháy; việc lắp đặt thiết bị truyền tin báo cháy; khai báo, cập nhật dữ liệu về PCCC, CNCH; việc duy trì khoảng cách PCCC, đường, bãi đỗ, khoảng trống phục vụ hoạt động PCCC, CNCH; việc duy trì giải pháp thoát nạn, ngăn cháy, chống cháy lan, chống khói; việc thực hiện trách nhiệm PCCC, CNCH của chủ hộ gia đình trực tiếp sử dụng nhà ở, người thuê, mượn, ở nhờ nhà ở.
– Để phục vụ công tác quản lý của các cơ quan chức năng, Nghị định bổ sung quy định về phân loại cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC theo nhóm nhằm có chế độ kiểm tra về PCCC cho phù hợp, tránh gây phiền hà đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp. Cụ thể, đối với cơ sở có nguy hiểm cháy, nổ nhóm 2 thì cơ quan quản lý kiểm tra định kỳ 01 năm một lần, đối với các cơ sở còn lại, ít nguy hiểm về cháy, nổ thì kiểm tra định kỳ 02 hoặc 03 năm một lần.
– Điều chỉnh các quy định liên quan đến hoạt động xây dựng, thực tập phương án chữa cháy, CNCH theo hướng lồng ghép phương án chữa cháy với phương án CNCH;
– Hướng dẫn cụ thể nội dung và mẫu phương án để người đứng đầu cơ sở dễ thực hiện, nâng cao chất lượng trong việc xây dựng phương án và tăng cường trách nhiệm trong việc tự tổ chức thực tập.
– Bãi bỏ các quy định hiện hành liên quan đến thủ tục hành chính về phê duyệt phương án của cơ sở.
– Nhằm giải quyết những bất cập trong việc xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về PCCC đối với cơ sở quốc phòng, cơ sở lưỡng dụng, Nghị định 105/2025/NĐ-CP đã điều chỉnh mới các quy định liên quan đến công tác quản lý nhà nước về PCCC, CNCH đối với các cơ sở này. Theo đó, giao Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm toàn diện về thực hiện quản lý nhà nước về PCCC, CNCH đối với tất cả các cơ sở, công trình, khu quân sự, phương tiện giao thông thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng phục vụ mục đích quân sự, quốc phòng, kể cả các công trình quốc phòng sử dụng lưỡng dụng, để bảo đảm thống nhất với quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
– Về việc phối hợp trong tổ chức chữa cháy đối với các cơ sở này, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc phạm vi quản lý chủ trì, phối hợp với cơ quan Công an và cơ quan có liên quan xây dựng, thực tập phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và tổ chức chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ đối với công trình quốc phòng sử dụng lưỡng dụng.
– Đây là nội dung mới được đưa vào Nghị định số 105/2025/NĐ-CP nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay về hạ tầng cấp nước chữa cháy. Theo đó, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức đầu tư lắp đặt, xây dựng, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng trụ nước chữa cháy, điểm, bến để lấy nước phục vụ chữa cháy tại các bể, ao, hồ, sông, suối, kênh tại khu dân cư trong đô thị và nông thôn. Kinh phí đầu tư được lấy từ ngân sách nhà nước bảo đảm cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy được quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật PCCC và CNCH.
– Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, chủ đầu tư hạ tầng khu chức năng có trách nhiệm lắp đặt, xây dựng, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng trụ nước chữa cháy trên hệ thống cấp nước tập trung, điểm, bến để lấy nước phục vụ chữa cháy tại các bể, ao, hồ, sông, suối, kênh tại khu vực do mình đầu tư. Kinh phí đầu tư được tính vào tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, hạ tầng khu chức năng.
Về cơ bản, Nghị định số 105/2025/NĐ-CP kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề này. Ngoài ra có điều chỉnh một số nội dung cần lưu ý như sau:
– Quy định cụ thể về chế độ hoạt động của lực lượng PCCC và CNCH tại chỗ. Theo đó đội PCCC và CNCH cơ sở, dân phòng được hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Riêng đội PCCC và CNCH chuyên ngành sẽ được phân loại cụ thể căn cứ quy mô, tính chất nguy hiểm cháy, nổ của từng loại hình công trình để quy định chế độ hoạt động chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
– Điều chỉnh các quy định về bố trí lực lượng PCCC và CNCH cơ sở. Theo đó, cơ sở có từ 20 người thường xuyên làm việc trở lên phải thành lập Đội PCCC và CNCH cơ sở (quy định hiện hành là 10 người trở lên).
– Ngoài ra, bổ sung các quy định cụ thể hơn về việc phân công người thực hiện nhiệm vụ PCCC, CNCH đối với cơ sở có dưới 20 người làm việc thường xuyên; việc thành lập Đội PCCC và CNCH chuyên ngành đối với các cơ sở giáp ranh, quy mô diện tích lớn; việc bố trí người bảo đảm đáp ứng yêu cầu vận hành phương tiện chữa cháy cơ giới được trang bị; việc ban hành quyết định thành lập, quy chế hoạt động, phân công Đội trưởng, Đội phó, Tổ trưởng của Đội PCCC và CNCH cơ sở, chuyên ngành,…
– So với quy định hiện hành, Nghị định 105/2025/NĐ-CP đã bổ sung quy định cụ thể, chi tiết hơn về trình tự đăng ký tham gia hoạt động PCCC tình nguyện; việc quản lý, sử dụng, huy động lực lượng tình nguyện; việc huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC, CNCH cho các cá nhân tham gia; chế độ, chính sách được hưởng khi tham gia chữa cháy, CNCH; chế độ, chính sách khi tham gia PCCC, CNCH mà bị tai nạn, bị thương, bị chết.
– Bổ sung quy định cụ thể phạm vi các hoạt động tình nguyện gồm: tham gia tuyên truyền, phổ biến giáo dục kiến thức, pháp luật, kỹ năng về PCCC, CNCH; tham gia xây dựng, duy trì các mô hình an toàn về PCCC, CNCH tại cộng đồng; tham gia chữa cháy; tham gia cứu nạn, cứu hộ; tham gia phục vụ chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ kèm theo biểu mẫu cụ thể để thuận tiện cho cá nhân khi đăng ký tham gia.
Đây là nội dung mới của Nghị định số 105/2025/NĐ-CP nhằm thay thế hoạt động kiểm định phương tiện PCCC hiện nay. Một số nội dung cần lưu ý cụ thể như sau:
– Phương tiện PCCC, CNCH và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy theo danh mục quy định tại Phụ lục V kèm theo Nghị định số 105/2025/NĐ-CP trước khi lưu thông trên thị trường phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lưu thông. Thẩm quyền cấp giấy phép lưu thông đối với phương tiện PCCC, CNCH và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy được quy định như sau:
+ Giấy phép lưu thông đối với phương tiện PCCC, CNCH do cơ quan Công an được phân cấp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện cấp phép;
+ Giấy phép lưu thông đối với vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy do cơ quan chuyên môn về xây dựng được phân cấp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng thực hiện cấp phép.
– Giấy phép lưu thông được cấp cho mẫu phương tiện PCCC, CNCH, vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy. Phương tiện PCCC, CNCH, vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy được sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu theo mẫu đã được cấp giấy phép thì được phép lưu thông trên thị trường.
– Việc cấp giấy phép lưu thông thay thế việc công bố hợp chuẩn, hợp quy theo quy định của pháp luật.
– Ngoài ra, Nghị định cũng đã quy định cụ thể về các trường hợp phải thu hồi giấy phép; việc kiểm tra chất lượng hàng hóa; việc chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp thực hiện hoạt động thử nghiệm đối với phương tiện PCCC, CNCH và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy.
Nghị định số 105/2025/NĐ-CP kế thừa một số nội dung quy định hiện hành và có sửa đổi một số nội dung sau:
– Thay đổi tên gọi của hệ thống là “hệ thống Cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH và truyền tin báo cháy” thay cho tên gọi “Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy và truyền tin báo sự cố” để bảo đảm phù hợp với Luật PCCC và CNCH;
– Bổ sung quy định Cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH và truyền tin báo cháy do Bộ Công an xây dựng, quản lý thống nhất trên toàn quốc và là tài liệu nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân; đồng thời giao Bộ Công an có trách nhiệm đặt hàng, giao nhiệm vụ cho đơn vị cung cấp dịch vụ truyền tin báo cháy bảo đảm các yêu cầu về an ninh, an toàn, bảo mật, công nghệ để cung ứng dịch vụ truyền tin báo cháy trong lĩnh vực PCCC và CNCH đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ an ninh thường xuyên.
– Bổ sung các quy định về các trường thông tin, dữ liệu cần khai báo, cập nhật trong Cơ sở dữ liệu bao gồm: thông tin của cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC; thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH;
– Bổ sung các quy định về đầu tư, quản lý, khai thác, vận hành hệ thống Cơ sở dữ liệu. Theo đó, người đứng đầu cơ sở phải trang bị, duy trì hoạt động và tự chi trả chi phí duy trì hoạt động của thiết bị truyền tin báo cháy; chủ hộ gia đình có nhà ở tại thành phố trực thuộc trung ương theo quy định tại khoản 5 Điều 20 Luật PCCC và CNCH có trách nhiệm duy trì hoạt động và tự chi trả chi phí duy trì hoạt động của thiết bị truyền tin báo cháy; đơn vị cung cấp dịch vụ truyền tin báo cháy có trách nhiệm xây dựng giải pháp, đầu tư hệ thống công nghệ, phần mềm phục vụ kết nối, có trung tâm hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến, có trách nhiệm phân loại tin báo cháy, tin báo sự cố kịp thời, chính xác… Việc tổ chức khai báo, cập nhật dữ liệu về PCCC, CNCH phải bảo đảm theo thời hạn quy định.
– Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bảo đảm kinh phí trang bị thiết bị truyền tin báo cháy đối với nhà ở tại thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực không bảo đảm hạ tầng giao thông hoặc nguồn nước phục vụ chữa cháy
– Lộ trình thực hiện cụ thể như sau:
+ Chậm nhất đến ngày 01/01/2026, Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương phải hoàn thành việc phân loại, lập và công bố danh sách khu vực, nhà ở thuộc khu vực không bảo đảm hạ tầng giao thông hoặc nguồn nước phục vụ chữa cháy trên địa bàn quản lý;
+ Chậm nhất đến ngày 01/7/2027, Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương phải hoàn thành việc trang bị và kết nối thiết bị truyền tin báo cháy với hệ thống Cơ sở dữ liệu.
+ Chậm nhất đến ngày 01/7/2027, người đứng đầu cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC phải hoàn thành việc trang bị và kết nối thiết bị truyền tin báo cháy với hệ thống Cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH và truyền tin báo cháy.
– Điều chỉnh và bổ sung những quy định cụ thể, chi tiết về nội dung, thời gian huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ về PCCC, CNCH theo từng đối tượng thuộc diện phải được huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ về PCCC, CNCH;
– Về thẩm quyền huấn luyện, so với quy định hiện hành, Nghị định số 105/2025/NĐ-CP quy định việc huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC, CNCH chỉ giao cơ quan Công an và Trường Đại học PCCC thực hiện; không giao các cơ sở kinh doanh dịch vụ ngoài ngành Công an thực hiện nhằm bảo đảm về chất lượng, hiệu quả của các hoạt động huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ.
– Bãi bỏ các quy định hiện hành liên quan đến thủ tục hành chính về huấn luyện nghiệp vụ PCCC và CNCH của cơ sở.
– Về chế độ chính sách, quy định cụ thể hơn về mức tiền bồi dưỡng được hưởng khi tham gia huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC, CNCH theo từng đối tượng cụ thể.
Về cơ bản các quy định về chế độ, chính sách đối với người được huy động, người tham gia chữa cháy, CNCH được kế thừa các quy định hiện hành tại Nghị định số 136/2020/NĐ-CP; điểm mới của Nghị định là bổ sung thêm trình tự, thủ tục để cá nhân đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc chi trả chế độ, chính sách nhằm bảo đảm minh bạch, thuận lợi cho việc tổ chức triển khai thực hiện.
– Điều chỉnh, bổ sung danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ phải mua bảo hiểm cháy, bổ bắt buộc.
– Điều chỉnh mức trích nộp từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc từ 1% lên 2%; điều chỉnh tỷ lệ các khoản chi từ nguồn thu bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Theo đó, không quá 65% để chi cho việc mua sắm, trang bị phương tiện PCCC, CNCH; không quá 15% để chi cho tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức, pháp luật về PCCC và CNCH; không quá 15% để chi hỗ trợ lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH trong hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền, kiểm tra về PCCC, điều tra…; không quá 5% để chi hỗ trợ khen thưởng.
– Cùng với việc sửa đổi, điều chỉnh trên, Nghị định cũng sửa đổi một số nội dung có liên quan tại Nghị định số 67/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng, để bảo đảm đồng bộ thống nhất giữa các quy định.
– Các quy định về về đóng góp tự nguyện, tài trợ bằng tiền, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài cho hoạt động PCCC, CNCH cơ bản giữ nguyên theo quy định hiện hành.
– Một điểm mới của Nghị định là bổ sung thêm nguồn chi cho hoạt động PCCC, CNCH; cụ thể bổ sung nội dung quy định về chi hỗ trợ cho hoạt động PCCC, CNCH từ Quỹ phòng, chống thiên tai. Theo đó, hằng năm, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì, phối hợp với cơ quan chức năng có liên quan đề xuất mức hỗ trợ và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức hỗ trợ từ Quỹ phòng, chống thiên tai để sử dụng chi bảo đảm cho hoạt động PCCC, CNCH quy định tại khoản 4 Điều 38 Nghị định số 105/2025/NĐ-CP mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu.
Để giải quyết những khó khăn, bất cập về nguồn ngân sách bảo đảm cho hoạt động PCCC, CNCH; so với quy định hiện hành, Nghị định đã bổ sung nhiều quy định quan trọng, cụ thể, chi tiết hơn để hướng dẫn việc chi ngân sách nhà nước bảo đảm cho hoạt động PCCC, CNCH theo các cấp, cụ thể là:
– Quy định cụ thể việc sử dụng Dự phòng ngân sách nhà nước để chi cho hoạt động PCCC, CNCH trong các trường hợp cấp bách;
– Quy định cụ thể các nội dung chi cho hoạt động của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH bao gồm: đảm bảo chế độ, chính sách cho lực lượng; các hoạt động nghiệp vụ về PCCC, CNCH; diễn tập, thực tập PCCC, CNCH theo kế hoạch hàng năm được Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt; đào tạo, huấn luyện, tổ chức và tham gia hội thi nghiệp vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH; mua sắm, trang bị, sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện PCCC, CNCH; xây dựng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa doanh trại, trụ sở làm việc; các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ; đối ngoại và hợp tác quốc tế…
– Quy định cụ thể các nội dung chi ngân sách nhà nước của các bộ, cơ quan trung ương cho hoạt động PCCC, CNCH;
– Quy định cụ thể nội dung chi của ngân sách địa phương cho hoạt động PCCC, CNCH và việc quyết định chi hỗ trợ một số hoạt động của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH.
– Về cơ bản nội dung quản lý nhà nước về PCCC được kế thừa trên cơ sở các quy định hiện hành; bổ sung một số nội dung như quản lý nhà nước về CNCH; việc ứng dụng công nghệ, Cơ sở dữ liệu về PCCC, CNCH và truyền tin báo cháy; việc quản lý chất lượng phương tiện PCCC, CNCH.
– Phân công trách nhiệm cụ thể hơn cho từng bộ, ngành, địa phương trong việc phối hợp thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về PCCC và CNCH, tránh chồng chéo, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quản lý; đồng thời bảo đảm các yêu cầu theo định hướng mô hình tổ chức mới của Chính phủ và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, cụ thể là:
+ Quy định chi tiết hơn trách nhiệm của UBND các cấp, đặc biệt trong việc: xây dựng, ban hành các quy định về PCCC, CNCH tại địa phương; chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật; xây dựng phong trào toàn dân tham gia PCCC, CNCH; đảm bảo kinh phí, trang bị phương tiện cho lực lượng PCCC, CNCH; bảo đảm điều kiện về thông tin báo cháy, đường giao thông, nguồn nước; quy hoạch địa điểm xây dựng doanh trại cho lực lượng Cảnh sát PCCC.
+ Quy định rõ nhiệm vụ của một số bộ, ngành trong việc chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về PCCC, CNCH như:
(1) Bộ Xây dựng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Công an quy định về giải pháp kỹ thuật nâng cao an toàn PCCC cho các cơ sở, công trình không bảo đảm yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy và không có khả năng khắc phục trước ngày Luật PCCC và CNCH có hiệu lực thi hành; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy thuộc lĩnh vực quản lý quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật PCCC và CNCH; quy định việc phân cấp quản lý, kiểm tra về PCCC đối với cơ sở thuộc Phụ lục II kèm theo Nghị định, phương tiện giao thông do cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện…
(2) Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về PCCC, CNCH đối với cơ sở, công trình, khu quân sự, phương tiện giao thông thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng…
(3) Bộ Công Thương có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị bán lẻ điện tư vấn việc lắp đặt, sử dụng đối với hệ thống, thiết bị điện để bảo đảm an toàn về phòng cháy khi đấu nối điện sinh hoạt; chỉ đạo thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra về bảo đảm an toàn sử dụng điện trong sinh hoạt, sản xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác về an toàn sử dụng điện theo quy định của pháp luật về điện lực…
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định chi tiết, cụ thể trách nhiệm của các bộ, ngành khác trong thực hiện công tác PCCC, CNCH.
– Cùng với đó, Nghị định số 78/2011/NĐ-CP ngày 01/9/2011 quy định việc phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong tổ chức thực hiện công tác phòng cháy và chữa cháy đối với cơ sở quốc phòng hết hiệu lực từ ngày Nghị định số 105/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
Để bảo đảm thực hiện việc quản lý phương tiện PCCC, CNCH không bị gián đoạn, Nghị định cho phép tiếp tục thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận kiểm định phương tiện PCCC, quản lý, sử dụng tem kiểm định phương tiện PCCC được tiếp tục thực hiện đến hết ngày 30/6/2026. Trình tự, thủ tục tiếp tục được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành, riêng các cơ sở thực hiện kiểm định phương tiện PCCC thì không yêu cầu phải có Giấy xác nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ PCCC do cơ quan Công an cấp.
Nghị định quy định cụ thể về lộ trình xử lý các cơ sở không bảo đảm yêu yêu cầu về PCCC theo các tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật PCCC và CNCH và không có khả năng khắc phục (gồm: khoảng cách PCCC; đường bộ, bãi đỗ, khoảng trống phục vụ hoạt động PCCC, CNCH; thoát nạn; bậc chịu lửa, ngăn cháy, chống cháy lan; chống khói; hệ thống điện phục vụ PCCC; phương tiện, hệ thống PCCC). Lộ trình cụ thể như sau:
– Chậm nhất đến ngày 01/01/2026, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoàn thành việc phân loại, lập và công bố danh sách cơ sở không bảo đảm yêu cầu về PCCC;
– Chậm nhất đến ngày 01/7/2026, các bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Công an quy định về phương tiện, thiết bị PCCC và giải pháp kỹ thuật nâng cao an toàn PCCC cho các công trình này.
– Chậm nhất đến ngày 01/7/2028, cơ sở thuộc danh sách công bố của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải hoàn thành việc khắc phục. Đối với cơ sở không thể áp dụng được giải pháp kỹ thuật tương ứng do các bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành ban hành thì sau ngày 01/7/2028 phải chuyển đổi công năng phù hợp với quy mô, tính chất hoạt động của cơ sở.
Tải về Nghị định 105/2025/NĐ-CP
Tải về Nghị định 105/2025 về Phòng cháy chữa cháy mới này bằng cách nhấn vào [TẢI VỀ] bên dưới.
► Quý khách hàng/bạn đọc cần bản WORD (đẹp, rõ ràng) và bản tiếng Anh của Nghị định này, vui lòng nhập email ở dưới phần bình luận của bài viết, chúng tôi sẽ gửi tài liệu qua email.

Nội dung Nghị định số 105 năm 2025 về PCCC
|
CHÍNH PHỦ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 105/2025/NĐ-CP |
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2025 |
NGHỊ ĐỊNH
Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ bao gồm:
1. Khoản 7, khoản 8 Điều 2 về danh mục cơ sở thuộc diện quản lý về phòng cháy, chữa cháy, danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ.
2. Điều 7 về nội dung quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong thực hiện quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
3. Khoản 10 Điều 8 về ban hành nội quy phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; việc lập, quản lý hồ sơ về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; việc khai báo, cập nhật dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
4. Khoản 6 Điều 10 về nội dung, thời gian thực tập phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và phương án cứu nạn, cứu hộ.
5. Khoản 4 Điều 11 về nội dung, thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy.
6. Khoản 5 Điều 15 về yêu cầu phòng cháy, chữa cháy khi lập, điều chỉnh, phê duyệt quy hoạch đô thị và nông thôn.
7. Khoản 4 Điều 17 về việc thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, công trình, phương tiện giao thông; việc điều chỉnh thiết kế, thay đổi công năng, cải tạo; danh mục công trình, phương tiện giao thông thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy; nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy; trách nhiệm phối hợp trong thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy.
8. Khoản 6 Điều 18 về tổ chức thi công, nghiệm thu công trình, phương tiện giao thông; bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy trong quá trình thi công; nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy; trách nhiệm phối hợp kiểm tra công tác nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy.
9. Khoản 5 Điều 20 về lộ trình phải trang bị bình chữa cháy, thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy.
10. Điểm c khoản 1 Điều 23 về lộ trình trang bị thiết bị truyền tin báo cháy kết nối với hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy; lộ trình khai báo, cập nhật dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
11. Khoản 8 Điều 25 về việc Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Công an tổ chức chữa cháy đối với công trình lưỡng dụng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
12. Khoản 6 Điều 26 về thủ tục huy động lực lượng, người, phương tiện, tài sản để chữa cháy; việc huy động lực lượng, người, phương tiện, tài sản của Quân đội để tham gia chữa cháy.
13. Khoản 4 Điều 27 về trách nhiệm đầu tư, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng trụ nước chữa cháy; đầu tư, quản lý các điểm, bến để xe chữa cháy, máy bơm chữa cháy lấy nước phục vụ chữa cháy.
14. Khoản 6 Điều 35 về thủ tục huy động lực lượng, người, phương tiện, tài sản tham gia cứu nạn, cứu hộ.
15. Khoản 4 Điều 37 về thành lập Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cơ sở, Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chuyên ngành; tổ chức, hoạt động và chế độ bảo đảm điều kiện hoạt động đối với lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cơ sở, lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chuyên ngành, lực lượng dân phòng.
16. Khoản 5 Điều 39 về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ tình nguyện.
17. Khoản 3 Điều 44 về việc cấp phép trước khi lưu thông trên thị trường đối với phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy; danh mục phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy.
18. Khoản 5 Điều 45 về nội dung, thẩm quyền, thời gian huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; chế độ, chính sách cho người tham gia huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
19. Khoản 4 Điều 46 về chế độ, chính sách đối với người được huy động, người tham gia chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ không thuộc lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; người được huy động, người tham gia phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị tai nạn, bị thương, chết.
20. Khoản 3 Điều 48 về danh mục cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; mức trích nộp, chế độ quản lý, sử dụng nguồn thu từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
21. Khoản 3 Điều 49 về đóng góp tự nguyện, tài trợ bằng tiền, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; việc hỗ trợ từ Quỹ phòng, chống thiên tai cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
22. Khoản 7 Điều 50 về ngân sách nhà nước bảo đảm cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
23. Khoản 5 Điều 52 về hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy; việc cập nhật, khai báo dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.
24. Khoản 4 và điểm đ khoản 6 Điều 55 về quy định chuyển tiếp về kiểm định phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; lộ trình xử lý cơ sở không bảo đảm yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy và không có khả năng khắc phục theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại thời điểm đưa vào hoạt động đến trước ngày Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có hiệu lực thi hành.
Điều 2. Phụ lục
Ban hành kèm theo Nghị định này các phụ lục sau đây:
1. Phụ lục I: Danh mục cơ sở thuộc diện quản lý về phòng cháy, chữa cháy.
2. Phụ lục II: Danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ.
3. Phụ lục III: Danh mục công trình, phương tiện giao thông thuộc diện thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy do cơ quan quản lý chuyên ngành thẩm định.
4. Phụ lục IV: Danh mục phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy.
5. Phụ lục V: Danh mục phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và vật liệu, cấu kiện ngăn cháy, chống cháy thuộc diện cấp giấy phép lưu thông.
6. Phụ lục VI: Mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.
7. Phụ lục VII: Danh mục cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.
8. Phụ lục VIII: Các biểu mẫu.
Chương II
PHÒNG CHÁY
…/.
Xem thêm các nghị định PCCC mới
Hoặc truy cập: DANH MỤC NÀY để xem các văn bản về PCCC được cập nhật mới nhất!
Nếu cần hỗ trợ hoặc tư vấn thêm các thông tin khác, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi:
Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Thành Phố Mới
- Hotline: 0988 488 818
- Điện thoại: 0274 222 5555
- Email: thanhphomoi.co@gmail.com
- Địa chỉ: Số 09, Đường số 7B, Khu Hòa Phú 3, Phường Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh
Tư vấn, mua hàng & bảo hành
Báo giá & hỗ trợ sau bán hàng
Báo giá, bán hàng
Khảo sát, bảo trì
Tư vấn, thiết kế

➥ Liên hệ tư vấn – Mua hàng tại đây








